Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2009

KẾ HOẠCH CÔNG TÁC 2009 - 2010


        SỞ GD-ĐT BÌNH ĐỊNH                  CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn                   Độc lập – Tự do – Hạnh  phúc
                      =oOo=                                                             ----------------

KẾ HOẠCH CÔNG TÁC NĂM HỌC 2009-2010
Tổ  Ngữ Văn

I. ĐẶC ĐIỂM CỦA TỔ:
1. Số lượng GV : 6 (3 nam, 3 nữ)

Stt
Họ và tên
C. danh
C/môn,
N.vụ
P.công GD
Kiêm  nhiệm
Ghi chú
1
Võ Công Trí
Tổ trưởng
Th.sĩ ;
GVG
12V, 12S-Đ, 12A
TKHĐ
TTrND, CN12V

2
Đỗ Em
Phó HT
Th.sĩ
GVDG
12L,12H, 12A1



3
Trần Hà Nam
GV
Th.sĩ GVDG
10V,10A, 12T, 12Si, 12A2

CN10V-A

4
Lê Thị Kim Tuyết
GV
ĐH, GVG
11V, 11T, 11A2.
CN 11V

5
Nguyễn Thị Thùy Dương
GV
ĐH
11A, 11S-Đ, 11H, 11Si


6
Nguyễn Thị Hồng Khánh
GV
ĐH
11L,11A1, 10T-L, 10H-Si, 10A1
CN10T-L


2. Thuận lợi:
- Trình độ chuyên môn khá, đều: 50% GV có trình độ thạc sĩ ; 66,7% GV đã đạt danh hiệu GVDG cấp tỉnh. Những GV trẻ  mới về trường vốn là những sinh viên giỏi ở trương ĐH
- Tuổi nghề bình quân là 16,1 năm (cao nhất 25 năm, thấp nhất 01 năm)
- Tất cả GV đều nhiệt tình trong công tác và có kỉ luật lao động tốt.
3. Khó khăn:
- Không có khó khăn gì đáng kể
           
II. NHỮNG CÔNG VIỆC VÀ BIỆN  PHÁP  THỰC HIỆN : 

Thứ Sáu, 27 tháng 11, 2009

Clip: Khiêu vũ tại giải Thể thao liên trường

Tại Đại hội thể thao liên trường tháng 11 vừa qua, cô Nguyễn Thị Hồng Khánh, giáo viên trẻ của Tổ Văn đã tham gia tiết mục khiêu vũ và xuất sắc đạt giải Nhất khiêu vũ cùng với bạn nhảy là thầy Chung (Thể dục). Tổ Văn xin giới thiệu video clip tiết mục khiêu vũ Rhumba trong hội thi.
Cô Khánh trong bộ đầm trắng cùng bạn nhảy đã trình diễn những bước nhảy uyển chuyển, được nhiều khán giả tán thưởng.

Thứ Năm, 26 tháng 11, 2009

Sáng tác của học sinh

Trên báo "Áo Trắng" số 27 ra ngày 1/7/2008 đã xuất hiện tên của hai học sinh trường chuyên Lê Quý Đôn - Bình Định. Một người là nhân vật rất quen thuộc với anh em LSSF đến từ tập thể VK7 - black229 . Người khác là một em học sinh đến từ tập thể VK8 tên là Đào Thị Thanh Thuỷ. Blackrose xin được đưa ra đây tác phẩm của hai người để mọi người cùng thưởng thức. Rất mong là chúng ta sẽ còn được nhìn thấy nhiều tên tuổi của học sinh trường chuyên Lê Quý Đôn trên các tạp chí, làm rạng danh trường chuyên.


HƠI ẤM TÌNH NGƯỜI
Đào Thị Thanh Thủy (VK8)


Ngồi giữa hàng rau, cô bé không ngớt mời khách nhưng đôi mắt trong veo vẫn chú ý tới góc chợ. Nơi ấy bốc lên một thứ mùi kinh tởm của rác rưởi.

Mùi mồ hôi và cống rãnh hòa quyện giữa cái nóng oi bức khiến ai đi ngang cũng nhăn mặt và bước vội vã hơn. Bà lão ngồi đó. Co ro. Khúm núm. Chiếc nón rách tươm che gần kín khuôn mặt, chỉ để lộ đôi môi nhợt nhạt và chiếc cằm xương xương.

Giữa không gian xô bồ, hỗn độn, bà như chết lặng. Thỉnh thoảng, đôi bàn tay chia sạm giơ lên, chới với như cố bám một vật vô hình nào đó. Vài người động lòng némvài đồng xu rồi nhanh chóng bước đi. đồng xu lăn trên mặt đất rồi nằm chết gí một chỗ, lạnh lùng, hờ hững. Bà cụ cúi đầu, đôi môi mấp máy cảm ơn. Bàn tay nhặt đồng xu trong lớp đất bụi rồi cẩn thận bỏ vào túi.

Tan chợ, cô bé định ra về nhưng bàn tay chạm phải đồng tiền khi ăn sáng mà cô bé định bỏ heo đất. Hình ảnh bà cụ hiện ra thôi thúc ... Cô bé cầm đồng tiền, tiến đến chỗ bà cụ khắc khổ ấy. Nhẹ nhàng, cô bé ngồi xuống nắm lấy bàn tay gầy guộc rồi bỏ đồng xu vào ... tiếng cô bé nhẹ như gió thoảng. Bà cụ ngẩng lên, khuôn mặt hốc hác nhưng đôi mắt ánh lên những tia nhìn ấm áp.

Ánh mắt cười! Cô bé ngạc nhiên trước thái độ của bà cụ. Số tiền ấy có nhiều gì đâu nhỉ? Cô bé vừa đi vừa nghĩ rồi bất chợt quay lại nhìn. Phía góc chợ, bà cụ đội nón rách che gần kín khuôn mặt, bàn tay giơ lên cầu mong sự bố thí. Nhưng bàn tay còn lại vẫn nắm chặt đồng xu lúc nãy ... Đôi mắt cô bé bỗng gợn sóng. Phải chăng là thế?


Thứ Tư, 25 tháng 11, 2009

ĐỀ ÁN CÔNG TÁC NĂM HỌC 2009 – 2010

Đề án công tác năm học 2009-2010 của trường THPT chuyên Lê Quý Đôn gồm những nội dung sau:
I.  TÌNH HÌNH CHUNG :
1)  Về đội ngũ cán bộ, giáo viên :
a) Về số lượng : Toàn trường có 48 CB-GV.  Trong  đó, BGH : 02 ; GV : 39 ; CBNV : 07.  Trong số 39 GV có 04 GV mới về nhận công tác tại trường gồm các môn Tiếng Anh, Sử, Địa và Thể dục ; có 03 GV đang theo học cao học tại Hà Nội và Tp HCM. Đến tháng 12/2009 có 01 GV sẽ nghỉ hưu
b) Về chất lượng :  15/41 GV có trình  độ thạc sĩ, chiếm 36,59% ; 17/41 GV đã đạt danh hiệu GVgiỏi và GV dạy giỏi cấp tỉnh, chiếm 41,46%.
c)  Năm học này, tuy lực lượng GV có được bổ sung nhưng với định mức biên chế ở  trường chuyên cùng với việc nhà trường sắp xếp cho một số GV đi học để nâng cao trình độ nên ở một số bộ môn như  Hóa, GDCD bình quân GV phải dạy trên 20 tiết /tuần.
2)  Về học sinh :
a) Số lượng :
- Toàn trường có 749 HS,  trong đó, khối 10 có  159 HS, khối 11 có 302 HS và khối 12 có 288 HS. So với năm học 2008 – 2009 giảm 9,21%. Lý do số lượng tuyển sinh lớp 10  sụt giảm lớn, so với năm 2008-2009 giảm 48,23%. Nhiều lớp số lượng HS quá thấp so với chỉ tiêu. Cụ thể như lớp 10Văn: 11HS (31,4%) ; 10Lý: 16 HS (45,7%); 10Toán: 19 HS (54,3%) ;  10Sinh: 17 HS (48,6%). Sự sụt giảm đáng kể số lượng HS khối 10 năm nay khiến cho nhà trường bị động trong kế hoạch hoạt động dạy và học.
- Tổng số lớp : 27 trong đó, khối 10 có 7 lớp (gồm 6 lớp chuyên và 1 lớp không chuyên) ; khối 11 có 10 lớp (gồm 8  lớp chuyên và 2 lớp không chuyên) ; khối 12 có 10 lớp (gồm 8 lớp chuyên và 2 lớp không chuyên). So với năm học trước giảm 02 lớp.
b) Về chất lượng HS : Ưu điểm là đại bộ phận HS đều chăm học, có ý thức rèn luyện, phấn đấu rõ rệt. Tuy nhiên mặt bằng HS không đồng đều giữa các lớp, các lớp Văn, Sử-Địa, Sinh vật năng lực học tập có hạn chế hơn so với các lớp Hóa, Toán, tiếng Anh. Nhiều HS ở huyện có khó khăn về chỗ ở và điều kiện học tập.
   

Thứ Hai, 23 tháng 11, 2009

Về cách hiểu câu thơ "Người ra đi đầu không ngoảnh lại" của Nguyễn Đình Thi

Từ lâu, bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi đã có mặt trong sách giáo khoa nhưng cho đến nay, câu thơ trên vẫn còn tồn tại hai cách hiểu khác nhau.
Có ý kiến cho rằng đó là "chân dung tự họa của tác giả", cụ thể hơn "những người thanh niên trí thức vừa từ biệt thành phố thân yêu để lên đường tham gia kháng chiến" (Sách GV Văn học 12, tập 1 - Sách chỉnh lý hợp nhất năm 2000).
Có ý kiến ngược lại, "không thể hiểu là người ra đi kháng chiến" nếu đặt câu thơ này trong khổ thơ hoài niệm về "những ngày thu đã xa" của Hà Nội trước cuộc chiến tranh (Sách GV Văn học 12, tập 1, Ban KHXH).
Một câu thơ nhưng các tác giả của sách giáo viên không chỉ hiểu khác mà còn đối lập nhau.
Trong tiếp nhận văn học, hiểu khác nhau về một câu thơ, bài thơ là chuyện bình thường. Mọi cách hiểu đều có thể chấp nhận nếu tôn trọng tính toàn vẹn của văn bản, lắng nghe tiếng nói nghệ thuật của tác phẩm để nhận ra ý nghĩa của nó. Hai cách hiểu trên đều có căn cứ từ văn bản nhưng cách hiểu thứ nhất e không hợp lý bởi mấy lẽ sau:
- Người ra đi vào mùa thu không phải là người lên đường tham gia kháng chiến vì cuộc kháng chiến nổ ra vào mùa đông năm 1946.
- Trong dụng ý nghệ thuật của mình, nhà thơ muốn ngợi ca mùa thu mới của đất nước nên so sánh mùa thu nay với "những ngày thu đã xa". Theo tác giả, "đã xa" là đã xa trong kỷ niệm, không phải đã xa trong một thời gian cụ thể nào. Và "những ngày thu" ở đây cũng không phải là một mùa thu cụ thể năm nào.
Từ chỗ xác định thời gian nghệ thuật, tác giả Nguyễn Đình Thi giải thích: "Người ra đi này cũng không phải là tác giả hoặc một người cụ thể nào - người ấy ra đi, có thể là đi làm cách mạng hoặc vì một lẽ khác, vì một bi kịch chung hoặc riêng… dù sao đấy cũng là một người bỏ nơi ở, bỏ nơi mình quen sống để ra đi, người ấy có nhiều nông nỗi, nhiều tâm trạng… Người ra đi ấy có một cảnh ngộ nào đấy ta không biết rõ." (Báo Văn nghệ số 53-1994).
Như vậy, Nguyễn Đình Thi muốn diễn tả một người giã từ Hà Nội ra đi với tâm trạng buồn để từ đó làm rõ niềm vui của con người ở mùa thu nay: "Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi". Nhưng sáng tạo văn chương còn có phần tiềm thức, vô thức. Có lẽ hình ảnh những tráng sĩ, những khách chinh phu, hình ảnh Kinh Kha… ẩn sâu trong tâm hồn người trí thức tiểu tư sản Nguyễn Đình Thi giờ sống lại, hóa thân vào người ra đi và hiện ra trong tư thế "đầu không ngoảnh lại".
Các tác giả của Đáp án đề thi môn Văn khối D năm 2003 viết một cách rất thận trọng: "Nhà thơ đã ghi lại hình ảnh của những người Hà Nội phải rời thành phố rất đỗi thân yêu ra đi, dứt khoát nhưng cũng đầy lưu luyến".
Cái khó của người dạy Văn là phải phấn đấu hiểu thấu đáo áng văn để hướng dẫn học sinh thâm nhập vào chiều sâu hình tượng nghệ thuật, nắm bắt thông điệp thẩm mỹ của tác giả. Trước những áng văn có nhiều cách hiểu khác nhau, người giáo viên buộc phải cân nhắc, lựa chọn cách hiểu hợp lý nhất.
Về trường hợp câu thơ Nguyễn Đình Thi, chúng ta có thể tham khảo ý kiến của chính nhà thơ trên báo Văn nghệ số 53 (31-12-1994).
. Đỗ Em
(Báo Bình Định - 7.8.2005)

Vợ nhặt (*) - một nhan đề hàm súc

Để hiểu một tác phẩm chúng ta phải giải mã nhan đề của nó. Không hiểu nhan đề Vợ nhặt đến trước hay sau khi Kim Lân hoàn thành tác phẩm nhưng đó là một nhan đề độc đáo.
Trước hết, nhan đề Vợ nhặt có sức khêu gợi sự chú ý của người đọc. Theo Kim Lân, vợ nhặt là vợ theo không, không cưới xin, lễ nghĩa gì cả. Đây là nhan đề ít nhiều hàm chứa chất hài hước nhưng ngẫm kỹ lại nói lên những điều thật sâu xa về thân phận bọt bèo, rẻ rúng của con người. Xưa nay, lấy vợ lấy chồng là một việc nghiêm túc. Nhưng ở Vợ nhặt, vợ không phải cưới xin mà nhặt được như nhặt một vật dụng tầm thường.

CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG BÀI THƠ THỜI GIAN CỦA HÀN MẶC TỬ

Còn đâu tráng lệ những thời xanh
Mùi vị thơm tho một ái tình
Đố kiếm cho ra trong lớp bụi
Ít nhiều hơi hám của kiên trinh

Đừng tưởng ngàn xưa còn phảng phất
Nơi làn gió nhẹ lúc ban đêm
Hồn xưa tự ấy không về nữa
Ở cõi hư vô dấu đã chìm

Chỉ có trăng sao là bất diệt
Cái gì khác nữa thảy đi qua
Tây Thi nàng hỡi bao nhiêu tuổi
Vẻ đẹp mê tơi vẫn nõn nà?

Tôi lạy muôn vì tinh tú nhé
Xin đừng luân chuyển để thời gian
Chậm đi cho kẻ tôi yêu dấu
Vẫn giữ màu tươi một mỹ nhân.
H.M.T
(Đau thương - phần Hương thơm)
Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) là một trong những hiện tượng đặc sắc của phong trào Thơ Mới Việt Nam (1932 – 1945), đặc biệt ở tập thơ Đau thương (tức Thơ Điên) đã có một sự kết hợp độc đáo của một tâm hồn thống khổ vì bệnh tật, tình duyên, bị tách biệt khỏi cuộc đời với một khả năng trác tuyệt của một cây bút sáng tạo cách tân để tạo thành những bài thơ cho đến nay vẫn chưa thể giải mã được cặn kẽ. Đứng từ góc độ thi pháp học, người viết xin nêu một vài suy nghĩ nhỏ về thời gian nghệ thuật trong một tác phẩm cụ thể: bài thơ Thời gian , nằm trong phần Hương thơm của tập thơ Đau thương.

Hình ảnh blog